I. SƠ LƯỢC VỀ HÓA CHẤT:

1. Khái nhiệm:
- Hóa chất là đơn chất, hợp chất, hỗn hợp chất được con người khai thác hoặc tạo ra từ nguồn nguyên liệu tự nhiên, nguyên liệu nhân tạo.
- Hóa chất nguy hiểm là hóa chất có một hoặc một số đặc tính sau: dễ cháy, dễ nổ, oxy hóa mạnh, ăn mòn mạnh, độc cấp tính, độc mãn tính, gây kích ứng với con người, có khả năng gây ung thư, gây biến đổi gen, tích lũy sinh học và gây ô nhiễm môi trường,..
2. Phân loại:
a. Phân loại theo đối tượng sử dụng, nguồn gốc, trạng thái và đặc điểm nhận biết
- Theo đối tượng sử dụng hóa chất: nông nghiệp, công nghiệp, lâm nghiệp, bệnh viện, dịch vụ, giặt khô, thực phẩm chế biến;
- Theo nguồn gốc hóa chất: nước sản xuất, nơi sản xuất, thành phần hóa học, độ độc, thời gian sản xuất, hạn sử dụng;
- Theo trạng thái pha của hóa chất như : hóa chất dạng rắn, hóa chất dạng lỏng, dạng khí;
- Theo đặc điểm nhận biết nhờ trực giác tức thời của con người ( qua màu sắc, mùi, vị);
- Theo tác hại nhận biết được của chất độc làm giảm sút sức khỏe của người lao động khi tiếp xúc với hóa chất ở thời gian ngắn gây ra nhiễm độc cấp tính còn thời gian dài gây ra nhiễm độc mãn tính
b. Phân loại theo đặc tính
Phân loại theo độ bền vững sinh học, hóa học và lí học của hóa chất độc tới môi trường sinh thái:
- Nhóm độc tố không bền vững với môi trường sinh thái như các hợp chất photpho hữu cơ, cacbonat…bền vững trong môi trường khoảng 1-2 tuần;
- Nhóm độc tố bền trung bình với môi trường sinh thái có độ bền vững trong môi trường từ 18 tháng;
- Nhóm độc tố bền vững với môi trường sinh thái có độ bền vững trong môi trường từ 2-5 năm;
- Nhóm độc tố rất bền vững với môi trường sinh thái như các kim loại nặng.
Phân loại theo chỉ số đặc tính TLm:
- Nhóm độc tính mạnh;
- Nhóm độc tính mạnh;
- Nhóm độc tính trung bình;
- Nhóm độc tính kém
Phân loại theo tính độc hại nguy hiểm của hóa chất:
- Người ta có thể phân chia tác hại của hóa chất theo các nhóm gây ăn mòn, cháy nổ, độc, tích tụ sinh học, độ bền trong môi trường sinh thái, gây ung thư, gây viêm nhiễm, gây quái thai, gây bệnh thần kinh…
c. Phân loại hóa chất theo tác hại chủ yếu của hóa chất đến cơ thể người
- Kích thích và gây bỏng như: xăng, dầu, acid, halogen, NaOH, sữa vôi, ammoniac, sunfurơ, O3, NO2 ….
- Dị ứng như: nhựa eepoxi, thuốc nhuộm hữu cơ, dẫn xuất nhựa than đá, acid crôoomi, tooluen, formaldehyt;
- Gây ngạt thở như: cabonic, metan, etan, nito, oxit cacbon…
- Gây mê và gây tê như: etanol, propanol, axeton, axetylen, hydrocacbua…
- Gây hại tới hệ thống cơ quan chức năng như alcohol, triclo eetylen, nhựa thong dung môi hữu cơ….
- Ung thư: asen, amiăng, crôm, niken;
- Hư thai: thủy ngân, khí gây mê…
II. CÁC CON ĐƯỜNG XÂM NHẬP VÀO CƠ THỂ CỦA HÓA CHẤT

1. Đường hô hấp:
- Khi hít thở các hóa chất dưới dạng khí, hơi hay bụi;
- Đường hô hấp là đường xâm nhập hóa chất thông thường và nguy hiểm nhất vì nó là nguyên nhân gây ra TNLĐ và BNN tới 95%;
- Đối với người lao động trong công nghiệp, hít thở là đường vào thông thường và nguy hiểm nhất;
- Bình thường một người lao động hít khoảng 8,5m3 không khí trong một ca làm việc 8 giờ.
⇒ Vì vậy, hệ thống hô hấp thực sự là đường vào thuận tiện cho hóa chất;
Chuyển hóa:
Hệ thống hô hấp bao gồm đường hô hấp trên (mũi, mồm, họng); đường thở (khí quản, phế quản, cuống phổi) và vùng trao đổi khí (phế nang),
Trong khơi thở, không khí có lẫn hóa chất vào mũi hoặc mồm, qua họng, khí quản và cuối cùng tới vùng trao đổi khí, tại đó hóa chất lắng đọng lại hoặc khuếch tán qua thành mạch vào máu.
Một phân tử hóa chất khơi lọt vào đường hô hấp sẽ kích thích màng nhầy của đường hô hấp trên và phế quản – đây là dấu hiệu cho biết sự hiện diện của hóa chất. Sau đó, chúng sẽ xâm nhập sâu vào phổi gây tổn thương phổi hoặc lưu hành trong máu.
2. Hấp thụ qua da: khi hóa chất dây dính vào da.
- Những hóa chất có dung môi thấm qua da hoặc chất dễ tan trong mỡ(như các dung môi hữu cơ và phê nol) dễ dàng thâm nhập vào cơ thể qua da;
- Những hóa chất này có thể thấm vào quần áo làm việc mà người lao động không biết. Điều kiện làm việc nóng làm các lỗ chân lông ở da mở rộng hơn cũng tạo điều kiện cho các hóa chất thâm nhập qua da nhanh hơn;
- Khi da bị tổn thương do các vết xước hoặc các bệnh về da thì nguy cơ bị hóa chất thâm nhập vào cơ thể qua da sẽ tăng lên.
Chuyển hóa:
Hóa chất dây dính trên da có thể có các phản ứng sau:
– Phản ứng với bề mặt của da gây viêm da xơ phát.
– Xâm nhập qua da, kết hợp với tổ chức protein gây cảm ứng da.
– Xâm nhập qua da vào máu.
3. Qua đường tiêu hóa:
- Do ăn, uống phơi thức ăn hoặc sử dụng những dụng cụ ăn đã bị nhiễm hóa chất;
- Do bất cẩn để chất độc dính trên môi, mồm rồi vô tình nuốt phơi hoặc ăn, uống, hút thuốc trong khơi bàn tay dính hóa chất hoặc dùng thức ăn và đồ uống bị nhiễm hóa chất là những nguyên nhân chủ yếu để hóa chất xâm nhập vào cơ thể qua đường tiêu hóa.
Chuyển hóa
– Chất độc vào cơ thể sẽ tham gia vào quá trình chuyển hóa phức tạp để chuyển hóa hầu hết thành chất không độc hoặc ít độc hơn. Quá trình này thận, gan đóng vai trò rất quan trọng, là các cơ quan tham gia giải độc.
Phân bố chất độc:
– Một số chất độc khi xâm nhập vào cơ thể không gây ra độc ngay mà phân bố trong một số cơ quan dưới dạng hợp chất không độc;
– Khi diều kiện nội và nọi thay đổi chất độc sẽ được huy động ồ ạt đưa vào máu gây ra nhiễm độc
– Dẫn đến nhiễm độc cấp tính hoặc mạn tính, với độc tính mạnh thì trong thời gian ngắn sẽ phát tác, còn với độc tính nhẹ sẽ là sự tích tụ dần dần.
